Bộ prompt chuẩn hóa mô tả, đối soát đơn và xử lý ngoại lệ cho Đồ gia dụng: copy và tùy chỉnh
Tình huống và việc giao cho AI: khi nào prompt hữu ích
Khi khách hỏi qua Zalo hoặc Messenger về sản phẩm đang thấy trên Shopee, Lazada hay TikTok Shop, bộ prompt giúp nhân viên catalog, vận hành gian hàng, kho và CSKH chuẩn hóa mô tả, kiểm bundle, chuẩn bị ship/giao lắp hoặc phân tích ngoại lệ. Nó hữu ích khi KiotViet hoặc Sapo đã có SKU, nguồn thông số, policy và người duyệt. Nó không biến một listing cũ thành nguồn đúng, không xác nhận sản phẩm an toàn hay bền, không giữ tồn, không hứa lắp đặt, bảo hành, đổi hàng hoặc hoàn tiền.
Năm prompt tách năm nhiệm vụ: mô tả catalog; bảng chọn kích thước/variant; bundle check; delivery/installation brief; return variance. Mỗi prompt có biến đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, schema và ví dụ DEMO. Nếu chưa đủ field bắt buộc, đầu ra đúng là UNKNOWN, WAITING_SOURCE, BLOCK_BUNDLE hoặc REVIEW_TASK. Không ép mô hình “hoàn thành” một câu trả lời bằng suy đoán.
Chuẩn bị packet đầu vào để copy không thành copy mù
Packet catalog gồm product_id, SKU, variant, dimension_type, value, unit, material_source, care guide, approved claim và version. Packet bundle gồm component SKU, required quantity, substitution policy, snapshot tồn theo location và captured_at. Packet giao gồm package facts, fragile flag, địa chỉ đã giảm thiểu, câu trả lời về tiếp cận, install policy và carrier. Packet hậu mãi gồm order line, lời khách, evidence refs, delivery receipt, policy version, COD, phí và payment state.
Không dán toàn bộ CRM hoặc ảnh giấy tờ không liên quan. Thay tên/số thật bằng mã DEMO khi kiểm thử. Nguồn phải được mở quyền đúng mục đích và có retention. Một field “24 cm” chưa đủ nếu không biết loại kích thước; “inox” chưa đủ nếu không có material_source; “còn hàng” chưa đủ nếu không có kho và captured_at. Prompt chỉ tốt bằng contract đầu vào.

Prompt 1: mô tả catalog không thêm claim
Prompt đầu đọc fact đã duyệt và tạo title, bullet, bảng thông số cùng care note. Nó phải trả removed_claims và unknown để người catalog thấy nội dung nào bị loại. Ví dụ DEMO-NOI-06 có đường kính phủ bì 24 cm theo CAT-v4 và vật liệu theo MATERIAL-v2. Câu “bền vĩnh viễn” không nằm trong claim register nên bị bỏ; Agent không thay bằng một claim mềm hơn nhưng vẫn vô căn cứ.
Dùng prompt sau khi catalog packet VALID, trước bước channel formatting. Nếu hai nguồn mâu thuẫn, không viết listing; tạo SOURCE_CONFLICT với cả hai source_ref. Catalog owner quyết định fact. Channel operator chỉ xem bản DRAFT đã duyệt, không tự biến output prompt thành publish action. Lưu prompt_version và hash packet để approval hết hạn khi fact thay đổi.
Prompt 2: bảng chọn kích thước và biến thể
Prompt thứ hai không “tư vấn sản phẩm tốt nhất”. Nó trình bày option từ fact đã xác minh và tạo câu hỏi còn thiếu. Với nồi 24 cm, hệ thống phải biết đây là đường kính gì, variant nào, chất liệu nào và compatibility với loại bếp có nguồn hay chưa. Khi chưa có ma trận tương thích, output hỏi khách loại bếp và chuyển product owner, không tự kết luận.
Schema theo hàng: tiêu chí, option, verified fact, source, câu hỏi, UNKNOWN và reviewer note. Nhân viên dùng bảng này trong hội thoại nhưng mọi lời gửi khách vẫn qua CSKH hoặc người bán có thẩm quyền. Cấm suy từ tên variant, ảnh hoặc sản phẩm gần giống. Nếu khách đưa nhu cầu ngoài dữ liệu, prompt ghi NOT_COVERED thay vì kéo một sản phẩm vào so sánh.
Prompt 3: bundle check chống oversell
Bundle DEMO-BDL-08 có thể hiển thị còn gói dù MUOI-01 đã hết. Prompt phải đọc từng component, required quantity, location và snapshot freshness. Nó không cộng tồn từ kho không xử lý đơn nếu policy không cho; không tự thay quà bằng SKU tương tự; không reserve. Output là READY, BLOCK hoặc STALE kèm component table và warehouse owner.
Bundle check chạy ở bước chuẩn bị listing và trước order fulfillment, nhưng kết quả ở hai thời điểm không thay nhau. Snapshot dùng tạo listing có thể quá cũ khi đơn đến. Order workflow phải kiểm lại. Nếu snapshot stale, Agent tạo WAREHOUSE_REVIEW. Nếu event đến lặp, order service dùng idempotency key; prompt không quyết định tạo pick task.
Rủi ro ở prompt 4 và 5: giao lắp cùng ngoại lệ hậu mãi
Delivery brief gom package dimensions, weight source, fragile flag, address constraint, câu trả lời về thang máy/cầu thang và install scope. Nó tạo packing checklist, câu hỏi và approver. Với kệ kính lên tầng bốn chưa rõ thang máy, output WAITING_INFO rồi OPS_REVIEW. Không được viết “bên em chắc chắn giao và lắp miễn phí” nếu policy, vùng phục vụ và phí chưa được người vận hành xác nhận.
Return variance tách lời khách, fact hệ thống, chứng từ và policy. Với kiện móp, prompt ghi customer statement, ảnh timestamp, delivery receipt, carrier report còn thiếu và policy question. Nó không chẩn đoán, không xác nhận bảo hành, không duyệt đổi hay refund, không ghi bút toán. DAMAGE_REVIEW, POLICY_REVIEW và FINANCE_REVIEW là ba hàng đợi khác nhau.
Workflow sáu bước để chạy prompt an toàn
Đầu tiên router chọn đúng prompt theo intent. Kế tiếp source gate kiểm packet và giảm dữ liệu. Prompt service sinh candidate theo schema. Validator chặn claim, promise, oversell và action vượt quyền. Approval queue gửi đúng field cho đúng owner. Cuối cùng connector chỉ thực thi action đã duyệt và lưu receipt. Ở pilot, có thể dừng trước connector, chỉ dùng DRAFT và REVIEW_TASK.
Nếu routing sai, STOP_ROUTING; thiếu nguồn, WAITING_SOURCE; output có claim cấm, BLOCKED_CLAIM; bundle thiếu, BLOCK_BUNDLE; thông tin giao thiếu, WAITING_INFO; hậu mãi cần quyết định, POLICY_REVIEW hoặc FINANCE_REVIEW. Timeout sau action phải tra target proof. Có receipt thì không chạy lại; chưa có mới replay đúng bước. Approval cũ không áp dụng khi input_hash đổi.

Ranh giới người duyệt và QA prompt theo fact, quyền, cam kết
Bộ test cần câu đơn vị dễ nhầm, dimension_type khác nhau, material_source thiếu, claim “an toàn tuyệt đối”, bundle thiếu component, snapshot cũ, install ngoài vùng, ảnh return thiếu timestamp và yêu cầu refund. Expected output phải ghi state, source và forbidden action. Test cả trường hợp prompt cố trả lời đầy đủ dù dữ liệu thiếu; validator phải bắt UNKNOWN bị bỏ.
Reviewer chấm theo field accuracy, source coverage, correct abstention, blocked action và review usefulness. Không chấm bằng một điểm “hay”. Theo dõi prompt nào tạo nhiều correction và correction thuộc lớp nào. Nếu lỗi do source cũ, sửa source; nếu do schema, sửa contract; nếu do policy, cập nhật rule; chỉ sửa prompt khi lỗi nằm ở instruction hoặc output format.
Công cụ quản trị khi triển khai prompt trong đội nhóm
Mỗi prompt có prompt_id, owner, version, purpose, required inputs, prohibited actions, output schema và test suite. Chỉ một bản active cho một intent; bản nháp ở staging. Nhân viên copy từ card được duyệt, không lưu biến thể cá nhân không kiểm soát. Khi muốn thêm field, mở change request và chạy regression. Tài liệu ghi ví dụ DEMO, không dùng dữ liệu khách thật.
Quyền xem nguồn tách khỏi quyền duyệt và quyền action. Catalog owner không cần xem dữ liệu thanh toán; finance không cần sửa mô tả sản phẩm; CSKH chỉ thấy thông tin đủ để xử lý case. Log lưu ai chạy prompt, input version, output hash, ai duyệt và action receipt. Retention theo mục đích; consent liên lạc do khách cấp/rút, nội bộ chỉ ghi nhận và thực thi.
Kết quả mẫu và checklist trước khi bấm Copy
Kết quả minh họa: Prompt mô tả trả DEMO-NOI-06 với 24 cm/CAT-v4, MATERIAL-v2 và removed_claim “bền vĩnh viễn”. Prompt variant đặt câu hỏi loại bếp. Prompt bundle trả BLOCK_BUNDLE vì thiếu MUOI-01. Prompt delivery trả WAITING_INFO cho kệ kính tầng bốn. Prompt return trả DAMAGE_REVIEW vì thiếu carrier report; refund_action là PROHIBITED.
Đầu ra mẫu không phải cam kết sản phẩm hoặc hiệu quả kinh doanh. Nó cho thấy một prompt tốt phải để lộ khoảng trống, source và owner. Khi triển khai thật, thay mã DEMO bằng dữ liệu đã được phép, cập nhật policy/version và để reviewer xác nhận. Nếu output không thể giải thích từ nguồn nào, không dùng để giao tiếp hoặc hành động.
Trước khi copy, xác nhận đúng intent, đủ biến, nguồn còn hiệu lực, dữ liệu đã giảm thiểu, reviewer sẵn sàng và action cấm đã bật. Sau khi chạy, kiểm schema, UNKNOWN, source_ref, claim, state và next_owner. Không copy output sang sàn, tin nhắn hoặc MISA trước duyệt. Với bundle, kiểm lại snapshot ở thời điểm order; với policy, kiểm effective_at.
Bắt đầu bằng prompt mô tả cho mười SKU có nguồn tốt, rồi thêm prompt variant. Chỉ dùng bundle check khi component mapping đã sạch. Delivery và return mở sau khi RACI vận hành rõ. Đọc bài bản đồ để chọn pilot và bài workflow để nối state machine. Khi cần thiết kế packet theo hệ thống hiện có, dùng internal links tới pillar ngành và liên hệ NganAds.
Có thể dán output prompt thẳng lên sàn không?
Không. Output là DRAFT_ONLY và cần catalog/channel owner duyệt theo source.
Prompt bundle có giữ hàng giúp không?
Không. Prompt chỉ tạo READY/BLOCK/STALE; kho hoặc OMS mới có thẩm quyền xử lý tồn.
Prompt delivery có báo chắc phí và lịch lắp không?
Không khi chưa có policy và người vận hành xác nhận; output phải WAITING_INFO hoặc OPS_REVIEW.
Prompt return có quyết định hoàn tiền không?
Không. Nó gom evidence và variance; policy owner/finance quyết định.